c. Biện pháp 3: Đảm bảo các yêu cầu trong sơ chế, chế biến và bảo quản thực phẩm Chế biến thực phẩm phải đảm bảo chất lượng ngon , hấp dẫn phù hợp với trẻ, đảm bảo an toàn. Muốn có được món ăn ngon và đảm bảo vệ sinh ATTP thì nhân viên nấu ăn phải nghiêm
Vì thế, một chế độ chăm sóc trẻ béo phì hợp lý là điều hết sức cần thiết, giúp cho trẻ phát triển thể lực tốt và phòng tránh các bệnh mãn tính sau này. Chế độ chăm sóc trẻ béo phì về mặt dinh dưỡng. Những điều nên làm. Khẩu phần ăn của trẻ cần cân đối
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG ÔNG THỊ HỒNG PHƯỢNG BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG NI DƯỠNG CHĂM SĨC TRẺ TẠI CÁC TRƯỜNG MẦM NON HUYỆN HÕA VANG THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG Chuyên ngành : Quản lý Giáo dục Mã số : 60.14.01.14 TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC Đà Nẵng - Năm 2016 Cơng trình hồn thiện
Những điều mẹ nên làm khi chăm sóc trẻ thừa cân béo phì. – Chú ý đến khẩu phần ăn của trẻ, khẩu phần ăn của trẻ cần cân đối, hợp lý, nên phối hợp nhiều loại thức ăn, tránh ăn một loại thực phẩm nào đó liên tục. – Nếu uống sữa nên sử dụng sữa không
Ngược lại, tình trạng béo phì cũng đáng báo động: Cả nước là 7,1%; Thành phố Hồ Chí Minh, lên tới 11,16%. Suy dinh dưỡng hoặc béo phì thường kéo theo những bệnh khác ảnh hưởng tiêu cực đến khả năng học tập, lao động, cuộc sống sau này của trẻ (6) .
. Phòng ngừa béo phì, thừa cân ở trẻ có liên quan đến chế độ ăn, tập luyện, ngủ nghỉ và sinh hoạt. Theo Nguyễn Anh Duy Tùng – Hệ thống Phòng khám Dinh dưỡng Nutrihome, phòng ngừa béo phì ở trẻ em rất quan trọng, giúp giảm thiểu những tác động tiêu cực về sức khỏe và chi phí điều trị. Trung tâm Kiểm soát và phòng ngừa bệnh tật CDC Mỹ khuyến cáo, trẻ em và thanh thiếu niên bị béo phì có nguy cơ mắc bệnh hen suyễn, tiểu đường tuýp 2, bệnh tim và một số bệnh khác cao hơn. Những người mắc bệnh béo phì thời thơ ấu có nhiều khả năng tái mắc khi trưởng thành. Người lớn mắc bệnh béo phì có nguy cơ bị đột quỵ, mắc một số bệnh ung thư và tình trạng sức khỏe tâm thần cao hơn. Điều trị béo phì ở trẻ em bằng thuốc và phẫu thuật giảm béo có thể tốn kém. Các biến chứng từ những can thiệp y khoa này cũng có thể tiềm ẩn một số nguy cơ. Để phòng ngừa béo phì ở trẻ nhỏ, bác sĩ Tùng gợi ý một số cách dưới đây. Chế độ ăn Thiết lập một kế hoạch ăn uống cân bằng, bổ dưỡng có thể giúp ngăn ngừa béo phì ở trẻ. Trong đó, cha mẹ nên chú ý hơn đến rau xanh, trái cây và các thực phẩm có nguồn gốc từ thực vật. Tổ chức Y tế Thế giới WHO khuyến nghị, chế độ ăn phòng ngừa béo phì ở trẻ cần hạn chế thực phẩm giàu calo, chất béo và đường, cùng với đó là tăng cường trái cây, rau, các loại đậu, ngũ cốc nguyên hạt và các loại hạt. Cho trẻ ăn cùng gia đình có thể giúp chúng làm quen với những bữa ăn lành mạnh và nhận thức được những mối nguy hiểm của việc ăn uống quá độ. Chế độ tập luyện Tập thể dục là yếu tố quan trọng khác để ngăn ngừa béo phì ở trẻ em. Vận động không chỉ góp phần ngăn ngừa béo phì mà còn giúp tăng cường sức mạnh xương, hạ huyết áp, giảm căng thẳng, lo lắng cho trẻ. Do vậy, phụ huynh nên khuyến khích trẻ em vận động hàng ngày. Các khuyến nghị về hoạt động thể chất cho trẻ em phụ thuộc vào độ tuổi. Theo CDC Mỹ, trẻ em từ 3 đến 5 tuổi nên hoạt động hầu như cả ngày. Trẻ lớn hơn, trẻ vị thành niên và thanh thiếu niên được khuyến khích vận động ít nhất 60 phút mỗi ngày. Vận động thường xuyên, vừa sức ở trẻ là chìa khóa giúp phòng chống béo phì, thừa cân. Ảnh Freepik Các khuyến nghị tập thể dục cho trẻ em trong độ tuổi từ 6–17 tuổi là ở mức độ vừa phải và cường độ cao. Trong đó bao gồm cả sự kết hợp giữa các bài tập aerobic và bài tập tăng cường cơ bắp, xương. Một số bài tập khuyến khích dành cho trẻ em bao gồm nhảy dây, chạy bộ, aerobic, đạp xe, các môn thể thao như bơi, cầu lông, bóng chuyền, bóng rổ… Giấc ngủ Có nhiều bằng chứng về tác động tiêu cực của việc thiếu ngủ đối với tăng cân ở người lớn và trẻ em. Thiếu ngủ ảnh hưởng đến một số hormone quyết định đến cân nặng, mức độ hoạt động và lượng calo. Bác sĩ Tùng cảnh báo, trẻ thiếu ngủ có nhiều nguy cơ tăng cân không mong muốn và kém lành mạnh. Thức nhiều có thể khiến trẻ ăn nhiều hơn và ngủ ít hơn cũng khiến trẻ lười hoạt động do cảm thấy mệt mỏi, kiệt sức. Các chiến lược phòng ngừa béo phì hiện nay thường có liên quan đến việc cải thiện giấc ngủ. CDC Mỹ khuyến nghị, thiết lập giờ đi ngủ phù hợp có thể giúp ngăn ngừa béo phì ở trẻ. Theo đó, thời gian ngủ ở trẻ em và thanh thiếu niên cần duy trì mỗi ngày là trẻ mới biết đi 1-2 tuổi 11-14 giờ, trẻ mầm non 3-5 tuổi 10-13 giờ, tuổi đi học 6-12 tuổi 9-12 giờ, thanh thiếu niên 13-18 tuổi 8-10 giờ. Một số cách có thể giúp trẻ ngủ ngon giấc hơn bao gồm thiết lập thói quen ngủ phù hợp; giữ cho phòng ngủ tối, yên tĩnh, thoải mái và thư giãn; tránh sử dụng thiết bị điện tử trước khi đi ngủ; không ăn và uống vài giờ trước khi đi ngủ; tập thể dục hàng ngày… Theo bác sĩ Tùng, trẻ dành nhiều thời gian chơi trò chơi, xem các thiết bị điện tử có thể dẫn đến béo phì. Cha mẹ nên giới hạn thời gian con chơi và thay thế bằng các hoạt động lành mạnh khác như đi dạo cùng nhau, tập thể dục hay giúp làm việc nhà như quét nhà và lau nhà… Bảo Bảo
Thừa cân, béo phì ở trẻ em gây nhiều hậu quả xấu tới sức khỏe như đái tháo đường tuýp 2, rối loạn chuyển hóa lipid máu và tăng huyết áp. Một số nghiên cứu cho thấy có đến 30% trẻ béo sẽ trở thành người béo khi trưởng thành, kèm theo đó là các bệnh mạn tính không lây như tim mạch huyết áp đái tháo đường và ung thư Chế độ ăn cho trẻ béo phì cần lưu ý những gì? Trẻ thừa cân béo phì cần có một chế độ dinh dưỡng cân đối, hợp lý, đa dạng. Tăng cường ăn cá hải sản và rau Giảm đậm độ năng lượng của thức ăn bằng cách giảm thức ăn giàu chất béo, đường ngọt và tăng cường gluxit phức hợp ngũ cốc thô. Đồ ăn nhanh sẽ khiến trẻ dễ bị thừa cân, béo phì Cho trẻ ăn đúng giờ, không bỏ bữa, nhất là bữa ăn sáng và hạn chế ăn sau 20 giờ. Ăn nhiều vào bữa sáng, bữa trưa và giảm ăn vào bữa chiều và bữa tối. Không cho trẻ ăn nhiều quá, lượng thực phẩm mỗi bữa ăn phải phù hợp với tuổi. Nên cho trẻ ăn đủ các bữa trong ngày, không bỏ bữa và không để trẻ quá đói, vì nếu bị quá đói trẻ sẽ ăn nhiều trong các bữa sau làm mỡ tích lũy nhanh hơn. Cho trẻ uống sữa tươi không đường hoặc sữa tươi không đường tách béo và giàu canxi Khuyến khích trẻ ăn nhiều rau. Hạn chế các món rán, xào, nên cho trẻ ăn các món luộc, hấp và kho. Hạn chế cho trẻ uống các loại nước ngọt có ga và các loại nước có nhiều đường. Hạn chế cho trẻ ăn các thức ăn giàu năng lượng như xúc xích humberger, gà tẩm bột chiên KFC mì tôm kem, bánh kem sô cô la và bánh ngọt. Không dự trữ ở trong nhà các loại thức ăn giàu năng lượng như bơ, bánh kẹo, sô cô la, nước ngọt và kem. Không cho trẻ ăn hoặc uống sữa trước giờ đi ngủ. Hạn chế mỡ, phủ tạng động vật và da động vật. Hoạt động thể lực cần được quan tâm, tạo điều kiện, khuyến khích trẻ Cha mẹ cần quan tâm, tạo mọi điều kiện để giúp trẻ năng động và tích cực hoạt động thể lực Tận dụng mọi cơ hội để giúp trẻ tăng cường hoạt động thể lực như đi bộ đến trường, leo cầu thang và chơi với em nhỏ... Tập cho trẻ hoạt động thể lực hằng ngày 30-60 phút Chạy, đá bóng, đạp xe và bơi. Cha mẹ nên tập cùng với trẻ để theo dõi và khuyến khích trẻ hoạt động. Khi đến các nơi vui chơi công cộng, khuyến khích trẻ chơi các trò chơi làm tăng tiêu hao năng lượng như cầu trượt, leo dây và chơi trong nhà bóng. Hạn chế thời gian ngồi xem tivi, video và trò chơi điện tử dưới 2 giờ/ngày. Cần cho trẻ được vui đùa và chạy nhảy vào những thời gian rảnh rỗi. Hướng dẫn trẻ làm các công việc nhà Dọn dẹp nhà cửa, góc đồ chơi của trẻ và gấp quần áo.
Bài viết được tham vấn chuyên môn cùng Bác sĩ chuyên khoa I Nguyễn Hồng Phúc - Bác sĩ Nội tổng quát - Khoa Khám bệnh & Nội khoa - Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Phú Quốc. Bệnh béo phì đang tǎng lên với tốc độ báo động, đây thực sự là mối đe dọa tiềm ẩn trong tương lai làm giảm tuổi thọ và chất lượng cuộc sống của con người kéo theo đó là một loạt hệ lụy về các bệnh khác như Cao huyết áp, suy tim, đái tháo đường, ung thư... 1. Bệnh béo phì được định nghĩa như thế nào? Thừa cân và béo phì được WHO- tổ chức y tế thế giới định nghĩa là sự tích tụ chất béo bất thường hoặc quá mức có thể làm giảm sức khỏe. Chỉ số khối cơ thể BMI là một chỉ số đơn giản về cân nặng theo chiều cao thường được sử dụng để phân loại thừa cân và béo phì ở người trưởng thành. Đối với người lớnThừa cân là chỉ số BMI lớn hơn hoặc bằng 25 và béo phì là chỉ số BMI lớn hơn hoặc bằng 30. Đối với trẻ em Đối với trẻ em dưới 5 tuổi Thừa cân là cân nặng theo chiều cao lớn hơn 2 độ lệch chuẩn trên trung bình. Tiêu chuẩn tăng trưởng trẻ em của WHO; và béo phì là cân nặng theo chiều cao lớn hơn 3 độ lệch chuẩn trên trung bình Tiêu chuẩn tăng trưởng trẻ em của WHO. Trẻ em từ 5 - 18 tuổi Thừa cân là BMI theo tuổi lớn hơn 1 độ lệch chuẩn trên trung bình tham chiếu tăng trưởng của WHO; và béo phì lớn hơn 2 độ lệch chuẩn trên trung bình trên tham chiếu tăng trưởng của WHO. Bệnh béo phì ở trẻ em Sự thay đổi trọng lượng cơ thể cho thấy nếu năng lượng đưa vào lớn hơn năng lượng tiêu thụ thì sự tăng cân sẽ xuất Bệnh béo phì có tính chất gia đìnhNhững nghiên cứu gần đây cho thấy bệnh béo phì có sự xuất hiện của gen di truyền di truyền đa gen. Cha và mẹ bị bệnh béo phì thì có đến 80% nguy cơ con bị béo phì. Chỉ có khoảng 7% người bệnh béo phì trong khi bố mẹ bình ra, việc ít vận động đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình xuất hiện béo phì, sự phát triển khoa học, sự tiến bộ trong kỹ thuật thông tin và giao thông làm cho con người càng ít vận động. Trẻ em tăng cân nhanh một phần có vai trò của phương tiện nghe nhìn tivi,, game và ngay cả trường học cũng ít quan tâm tới môn học hoạt động thể lực. Do thần kinh nội tiếtVùng dưới đồi Gây béo phì khi bị tổn thương, bệnh ít nang buồng trứng Đa nang buồng trứng gây rối loạn kinh nguyệt, tăng huyết áp, tăng androgen, kháng insulin và béo phì gặp 50% bệnh nhânCường vỏ thượng thận Cushing.Suy giáp Suy giáp làm rối loạn chuyển hoá nước điện giải, làm giảm Natri và giữ nước gây tăng cân, điều này hoàn toàn khác với tăng cân do béo. Bệnh lý tuyến giáp gây béo phì U tuỵ nội tiết insulinoma Do tăng insulin gây hạ đường huyết và bệnh nhân phải ăn nhiều dẫn tới tăng chứng phì sinh dục Babinski – Froehlich.Những bệnh nhân bị rối loạn nội tiết và chuyển hóa như U vỏ thượng thận, mãn kinh, rối loạn chuyển hóa đường, rối loạn mỡ máu lipid... sẽ kích thích tạo mô mỡ. Sự hình thành mô mỡ trong cơ thể khiến cho sự gia tăng nhu cầu về chất đường, kéo theo gia tăng nhu cầu Insulin, sự gia tăng hai chất này lại kích thích tạo mô mỡ và hình thành một vòng xoắn bệnh lý rất khó điều trị. Bệnh béo phì do genĐột biến gen sản xuất Leptin hoặc đột biến Receptor của biến gen khácGen tổng hợp sản xuất Prohormone convertase – 1 PC – 1Me – 4 – 2 Peroxisome Proliferator Activator – receptor 2 . Bệnh béo phì do yếu tố gen gây ra 3. Thừa cân và bệnh béo phì gây ra những hậu quả gì? BMI tăng là một yếu tố nguy cơ chính đối với các bệnh không truyền nhiễm nhưBệnh tim mạch chủ yếu là bệnh tim và đột quỵ, là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong trong năm 2012;Bệnh tiểu đường;Rối loạn cơ xương khớp đặc biệt là viêm xương khớp - một bệnh thoái hóa khớp rất cao;Một số bệnh ung thư bao gồm nội mạc tử cung, vú, buồng trứng, tuyến tiền liệt, gan, sỏi mật, thận và đại tràng.Thừa cân ở trẻ em có liên quan đến nguy cơ mắc bệnh béo phì, tử vong sớm và tàn tật ở tuổi trưởng thành cao hơn. Nhưng ngoài việc tăng nguy cơ trong tương lai, trẻ béo phì còn gặp khó khăn về hô hấp, tăng nguy cơ gãy xương, tăng huyết áp, các dấu hiệu sớm của bệnh tim mạch, kháng insulin và ảnh hưởng tâm lý. 4. Làm thế nào có thể giảm tình trạng bệnh béo phì? Thừa cân và béo phì, cũng như các bệnh liên quan phần lớn có thể phòng ngừa được bằng cách chọn lựa thực phẩm lành mạnh và hoạt động thể chất thường xuyên là lựa chọn dễ dàng nhất lựa chọn dễ tiếp cận nhất, có sẵn và giá cả phải chăng, do đó ngăn ngừa thừa cân và béo cấp độ cá nhân, mọi người có thểHạn chế lượng năng lượng nạp vào từ tổng lượng chất béo và đường;Tăng khẩu phần trái cây và rau quả, cũng như các loại đậu, ngũ cốc nguyên hạt và các loại hạt; Tham gia các hoạt động thể chất thường xuyên 60 phút mỗi ngày cho trẻ em và 150 phút trải đều trong tuần cho người lớn. Tham gia các hoạt động thể chất giúp giảm tình trạng bệnh béo phì Để đặt lịch khám tại viện, Quý khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đặt lịch trực tiếp TẠI ĐÂY. Tải và đặt lịch khám tự động trên ứng dụng MyVinmec để quản lý, theo dõi lịch và đặt hẹn mọi lúc mọi nơi ngay trên ứng dụng. Phương pháp điều trị béo phì XEM THÊM Ăn bơ có giảm cân không? Khác nhau giữa đường nâu và đường trắng Sau uống thuốc giảm cân bị mệt phải làm sao?
Bài viết được tư vấn chuyên môn bởi PGS. Huỳnh Thoại Loan - Trưởng khoa Nhi - Sơ sinh, Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Central Park. Tình trạng béo phì của trẻ em ngày nay ngày càng gia tăng, việc ăn uống quá mức so với nhu cầu kèm lối sống tĩnh tại, ít vận động thể lực là nguyên nhân và dẫn đến nguy cơ tăng huyết áp, rối loạn mỡ máu, bệnh tim mạch, đái tháo đường type 2, rối loạn nội tiết, rối loạn giấc ngủ và cơn ngừng thở ở trẻ em. 1. Béo phì là gì? Béo phì được định nghĩa là tình trạng tích tụ mỡ bất thường và quá mức tại các mô mỡ và các tổ chức khác dẫn đến các biến chứng có hại cho sức khỏe. Có nhiều tiêu chuẩn đánh giá béo phì ở trẻ em, phổ biến là phương pháp đánh giá z-score của chỉ số khối cơ thể BMI theo tuổi và = Cân nặng kg/ Chiều cao m x Chiều cao mCông thức trên được áp dụng khi trẻ từ 2 tuổi trở lênTrẻ 2-5 tuổi thừa cân khi z-score BMI ≥ 2SD và béo phì khi ≥ 3SDTrẻ 5-18t thừa cân khi z-score BMI ≥ 1SD và béo phì khi ≥ 2SD BMI là một trong những tiêu chuẩn đánh giá béo phì ở trẻ em 3. Nguyên nhân của béo phì Béo phì nguyên phát Do mất cân bằng năng lượng Tăng lượng thu vào nhiều hơn nhu cầu của cơ thể hoặc/và giảm lượng tiêu hao trong thời gian dài làm tăng tích tụ mỡ trong cơ thể đặc biệt là ở bụng, mông, đùi và béo phì đơn thuần thường gặp ở những trẻ béo phì háu ăn, ít hoạt động và giảm chuyển hoá thân nhiệt. Trẻ béo phì thường cao hơn ở lứa tuổi trước dậy thì, nhưng lâu dài trẻ ngưng tăng trưởng sớm và có chiều cao trung bình thấp ở tuổi trưởng thành. Ăn quá nhiều thực phẩm nhiều chất béo, đồ ngọt là nguy cơ lớn gây béo phì ở trẻ Béo phì thứ phát Béo phì thứ phát thường gặp trong các bệnh lý nội tiết, bệnh lý di truyền, do dùng thuốc,...Béo phì do suy giáp trạng Béo toàn thân, lùn, da khô và thiểu năng trí do cường năng tuyến thượng thận U nam hoá vỏ tượng thận Béo bụng, da đỏ có vết rạn, nhiều trứng cá, huyết áp phì do thiểu năng sinh dục Thường gặp trong 1 số hội chứng Prader-Willi béo bụng, lùn, thiểu năng trí tuệ và hay gặp tinh hoàn ẩn. Lorence Moon Biel béo đều toàn thân, đái nhạt, thừa ngón và có tật về mắtBéo phì do các bệnh về não Thường gặp do các tổn thương vùng dưới đồi, sau di chứng viêm não. Béo thường có kèm theo thiểu năng trí tuệ hoặc có triệu chứng thần kinh khu phì do dùng thuốc Uống Corticoid kéo dài trong điều trị bệnh hen, bệnh khớp, hội chứng thận hư hoặc vô tình uống thuốc đông y có trộn lẫn corticoid để điều trị chàm, dị ứng và hen. Đặc điểm béo của hội chứng Cushing, béo bụng là chủ yếu và không tìm thấy nguyên nhân trừ khai thác bệnh sử có sử dụng thuốc corticoid. 4. Các yếu tố nguy cơ béo phì Tiền sử gia đìnhBố hoặc mẹ bị béo phì 80% trẻ béo phì nặng có một hoặc cả hai bố mẹ cùng béo nặng lúc sinh Trẻ có cân nặng lúc sinh > 4 kg có nguy cơ béo phì cao hơn trẻ có cân nặng lúc sinh bình phẩm giàu năng lượngThức ăn nhiều chất béo mỡ, da, phủ tạng, thức ăn chiên xào, quay, thức ăn nhanh, thức ăn thức uống ngọt chè, bánh kẹo ngọt, nước có đường, trái cây quá ngọt,....Thiểu năng trí tuệTrẻ bị thiểu năng trí tuệ có bản năng kiểm soát thói quen ăn uống, nhận biết cảm giác no kém nên dễ dẫn đến ăn quá mức và ăn không biết no. Ngoài ra, khả năng giao tiếp xã hội bị hạn chế trẻ ít có cơ hội chơi đùa, vận động nên thường tìm đến ăn để tự tiêu khiển cho bản động thể lực ítTrẻ có lối sống tĩnh tại như ít vận động thể lực, dành nhiều thời gian xem tivi, chơi game, đọc sách báo,.. thường có thói quen ăn vặt thường tiêu hao nặng lượng ít trong khi thu nạp năng lượng vượt mức nhu cầu, lâu dài dễ dẫn đến tình trạng béo phì. 5. Các xét nghiệm cận lâm sàng để chẩn đoán yếu tố nguy cơ và nguyên nhân Lipid máu Có thể tăng Cholesterol, TriglycerideĐường huyết Có thể rối loạn đường huyết lúc đói, rối loạn chuyển hóa đường hoặc đái tháo đườngSiêu âm bụng tổng quát Có thể gan nhiễm mỡĐịnh lượng nội tiết tố tuyến thượng thận, tuyến giáp, tuyến yên...Chụp sọ não 6. Chẩn đoán béo phì Chẩn đoán béo phì dựa vào nhiều yếu tố, dựa vào các số đo nhân trắc để đánh giá sự cân đối của cân nặng so với chiều cao, phân tích thành phần cơ thể, bề dày nếp gấp da, vòng bụng để đánh giá sự tích mỡ, đánh giá khẩu phần ăn uống- vận động, tiền sử gia đình, khám các dấu hiệu của biến chứng và các dấu hiệu gợi ý nguyên nhân của béo phì chậm phát triển tâm thần, dị tật bẩm sinh, bệnh lý nội tiếtViệc chẩn đoán nguyên nhân của béo phì thứ phát rất phức tạp có khi cần phải làm những xét nghiệm định lượng hormone và làm nhiễm sắc thể mới chẩn đoán nguyên nhân gây béo phì. 7. Điều trị béo phì Tùy thuộc nguyên nhân, độ tuổi và mức độ béo phì của trẻ để xác định mục tiêu điều trịXây dựng thói quen ăn uống và vận động lành mạnhNguyên tắc cơ bản là điều chỉnh thói quen ăn uống, lựa chọn thực phẩm lành mạnh, tăng cường vận động thể lực. Hạn chế nguồn cung cấp năng lượng dư thừa từ thực phẩm giàu năng lượng như dầu mỡ, đường, bánh kẹo ngọt,...; Khuyến khích tăng cường vận động ít nhất 60 phút mỗi ngày qua trò chơi và thể dục thể thao nhảy dây, bơi lội, chạy hoặc đi bộ nhanh,...ưu tiên môn thể thao phù hợp với sở thích của trẻ. Vận động giúp tăng cường thể lực, giảm thiểu nguy cơ béo phì Tiết chế ăn uống- vận độngXây dựng thực đơn chặt chẽ và y lệnh về vận động trong trường hợp béo phì nặng cần xác định mục tiêu giảm cânCan thiệp tích cực đa chuyên ngànhCần có sự tham gia phối hợp của nhiều chuyên gia bao gồm bác sĩ, tiết chế viên, chuyên viên tư vấn tâm lý, chuyên viên tư vấn vận động để kết hợp nhiều biện pháp nhằm thay đổi nhận thức, hành vi bên cạnh các giải pháp tiết chế ăn uống- vận trị bằng thuốcThường trẻ béo phì ăn uống thiên lệch, mất cân đối sẽ được xem xét bổ sung chất đạm, vitamin, khoáng chất, omega3, chất xơ,... tùy trường hợp. Ngoài ra, điều trị bằng thuốc còn áp dụng để điều trị nguyên nhân/ biến chứng của béo phì. Khoa Nhi tại Vinmec là một trong số ít bệnh viện đa chuyên khoa với đầy đủ các bác sĩ chuyên khoa thần kinh, tim mạch, tiêu hóa, dinh dưỡng, tâm lý, nội tiết, gan mật giúp xử lý nhanh, kịp thời khi phát hiện ra các bệnh lý trong quá trình khám. Là lĩnh vực trọng điểm của hệ thống Y tế Vinmec, Khoa Nhi luôn mang lại sự hài lòng cho Quý khách hàng và được các chuyên gia trong ngành đánh giá cao vớiQuy tụ đội ngũ y bác sĩ về Nhi khoa gồm các chuyên gia có trình độ chuyên môn cao giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ, thạc sĩ, giàu kinh nghiệm, từng công tác tại các bệnh viện lớn như Bạch Mai, 108.. Các bác sĩ đều được đào tạo bài bản, chuyên nghiệp, có tâm - tầm, am hiểu tâm lý trẻ. Bên cạnh các bác sĩ chuyên khoa Nhi trong nước, khoa Nhi còn có sự tham gia của các chuyên gia nước ngoài Nhật Bản, Singapore, Úc, Mỹ luôn tiên phong áp dụng những phác đồ điều trị mới nhất và hiệu quả vụ toàn diện Trong lĩnh vực Nhi khoa, Vinmec cung cấp chuỗi các dịch vụ khám - chữa bệnh liên hoàn từ Sơ sinh đến Nhi và Vaccine,... theo tiêu chuẩn Quốc tế để cùng bố mẹ chăm sóc sức khỏe bé từ khi lọt lòng đến tuổi trưởng thànhKỹ thuật chuyên sâu Vinmec đã triển khai thành công nhiều kỹ thuật chuyên sâu giúp việc điều trị các căn bệnh khó trong Nhi khoa hiệu quả hơn phẫu thuật thần kinh - sọ, ghép tế bào gốc tạo máu trong điều trị ung sóc chuyên nghiệp Ngoài việc thấu hiểu tâm lý trẻ, Vinmec còn đặc biệt quan tâm đến không gian vui chơi của các bé, giúp các bé vui chơi thoải mái và làm quen với môi trường của bệnh viện, hợp tác điều trị, nâng cao hiệu quả khám chữa bệnh. Để đặt lịch khám tại viện, Quý khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đặt lịch trực tiếp TẠI ĐÂY. Tải và đặt lịch khám tự động trên ứng dụng MyVinmec để quản lý, theo dõi lịch và đặt hẹn mọi lúc mọi nơi ngay trên ứng dụng. XEM THÊM Bé 7 tuổi nặng 49kg ăn rất nhiều cần phải làm gì? COVID-19 ảnh hưởng thế nào đến người béo phì? Hội chứng giảm thông khí béo phì yếu tố nguy cơ, đặc điểm lâm sàng và xét nghiệm Dịch vụ từ Vinmec
MỤC LỤC I II 1 2 3 4 III ĐẶT VẤN ĐỀ Lý do chon đề tài GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ Cơ sở lý luận Cơ sở thực tiễn Thuận lợi Khó khăn Những biện pháp thực hiện Biện pháp 1 Phối hợp với các lớp cho trẻ ăn giảm năng lượng hợp lý Biện pháp 2 Kết hợp với giáo viên tuyên truyền đến gia đình trẻ cho ăn ít chất bột đường, chất béo trong các bữa ăn của trẻ. Biện pháp 3 Tăng cường cho trẻ ăn nhiều rau, củ, quả Biện pháp 4Tăng cường cho trẻ vận động Hiệu quả sáng kiến KẾT LUẬN I. ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Lý do chọn đề tài 1/8 Trang 1 1 2 2 3 3 2 3 4 5 6 6 7 7 Cùng với sự phát triển chung của xã hội, mỗi người chúng ta ngày nay đều có cuộc sống đầy đủ sung túc hơn. Chính vì vậy trẻ em được hưởng thụ chăm sóc đặc biệt của gia đình và xã hội. Nhiều người cho rằng có điều kiện cho con ăn uống nhiều là cách tốt nhất cho con mình mập mạp và càng bụ bẫm thì càng tốt nên đến khi cha mẹ phát hiện ra con mình thừa cân thì đã rất khó để điều chỉnh. Hiện nay mức độ báo động của xã hội đối với trẻ thừa cân béo phì đã được ưu tiên hàng đầu. Các trường mầm non hiện đang phải thực hiện chế độ chăm sóc trẻ béo phì theo cách riêng của mình chứ không có một mức độ chuẩn mực nào, bên cạnh đó trong trường mầm non vấn đề dinh dưỡng cho học sinh là mục tiêu được quan tâm đầu tiên nhưng để cải thiện tình trạng trẻ thừa cân, béo phì không khá hơn là bao. Bản thân tôi là cán bộ quản lý trong trường mầm non, trong quá trình thực hiện công tác quản lý chỉ đạo chăm sóc nuôi dưỡng trẻ, tôi luôn trăn trở trước thực trạng trẻ em béo phì hiện nay và từ đó tìm cách chăm sóc trẻ để có kết quả tốt nhất. Tôi luôn nghiên cứu, phối hợp các nhóm thực phẩm một cách hợp lý, chế biến các bữa ăn ngon cho trẻ, tạo cho trẻ thói quen tốt trong ăn uống để phát triển về thể chất, chiều cao, cân nặng một cách cân đối. Qua quá trình công tác tôi rút ra được kinh nghiệm “Một số biện pháp chăm sóc trẻ thừa cân béo phì” trường MN Hoa Thủy Tiên. II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 1. Cơ sở lý luận Nuôi dưỡng là nhiệm vụ quan trọng trong quá trình chăm sóc giáo dục trẻ mầm non. Nuôi dưỡng đảm bảo chất lượng sẽ có tác dụng tăng cường và bảo vệ sức khỏe cho trẻ, giúp trẻ phát triển tốt về thể lực, tạo điều kiện cho việc thực hiện giáo dục trẻ toàn diện. Chất lượng chăm sóc nuôi dưỡng trong các trường mầm non phụ thuộc vào các yếu tố Điều kiện cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên và nhân viên nuôi dưỡng, mức tiền ăn và công tác quản lý, cách chăm sóc trẻ của giáo viên và sự kết hợp giữa gia đình với nhà trường. Thực trạng trẻ suy dinh dưỡng trong các nhà trường hiện nay không đáng ngại vì do quá trình chăm sóc, tỉ lệ trẻ suy dinh dưỡng đã giảm xuống đáng kể nhưng trái lại tỉ lệ trẻ thừa cân béo phì lại có nguy cơ tăng cao hơn và để giảm tỉ lệ này lại rất khó. Vậy chăm sóc trẻ thế nào, chế độ luyện tập cho trẻ ra sao là một vấn đề rất quan trọng đòi hỏi các nhà trường phải hết sức quan tâm. 2. Cơ sở thực tiễn * Thuận lợi 2/8 - Trường MN Hoa Thủy Tiên đạt chuẩn quốc gia mức độ II, cơ sở vật chất phục vụ cho công tác chăm sóc nuôi dưỡng đồng bộ hiện đại tạo điều kiện rất tốt cho công tác chăm sóc nuôi dưỡng trẻ. - Ban giám hiệu nhà trường chỉ đạo sát sao, luôn đóng góp từng ý kiến bổ ích cho các hoạt động trong ngày, đặc biệt là khi chế biến phối hợp các nhóm thực phẩm cho trẻ nói chung và trẻ thừa cân béo phì nói riêng. - Nhân viên tổ nuôi có kinh nghiệm và tay nghề giỏi, phối hợp nhịp nhàng và nắm bắt được tỷ lệ các chất và cân đối hợp lý. - Đa số phụ huynh nhiệt tình quan tâm đến các con trong các hoạt động ở trường và luôn lắng nghe những bài tuyên truyền bổ ích của nhà trường về chăm sóc nuôi dưỡng trẻ. * Khó khăn - Số trẻ thừa cân trong trường tương đối nhiều, đầu năm học toàn trường chiếm tỉ lệ 6/750 = 0,8% - Số trẻ trên lớp, có lớp vẫn còn đông hơn so với quy định nên việc chăm sóc trẻ có ảnh hưởng nhất định. - Nhà trường chưa có chế độ ăn riêng cho trẻ thừa cân béo phì - Quan niệm của một số phụ huynh còn khác nhau về sức khỏe của trẻ, họ coi trẻ bụ bẫm thừa cân là rất bình thường, là đáng yêu. Từ những thực tế trên tôi đã luôn suy nghĩ làm thế nào để cùng với chị em tổ nuôi, giáo viên cố gắng phấn đấu trong quá trình chăm sóc trẻ. Qua một năm thực hiện, tôi có đúc rút được một số biện pháp sau để chăm sóc trẻ thừa cân béo phì như sau 3. Các biện pháp Tình trạng trẻ béo phì, thừa cân ngày càng phổ biến, nhất là các cháu trong độ tuổi mầm non, bệnh phát hiện là nhờ các trường có cán bộ y tế sát sao trong công việc, có chương trình theo dõi dinh dưỡng sức khỏe của trẻ thường xuyên. Qua chăm sóc trẻ hàng ngày tôi thấy trẻ có cân nặng nhiều hơn so với độ tuổi là trẻ rất thích ăn dưới mọi hình thức. Điều này không có nghĩa là ta phải đảm bảo nhu cầu riêng của trẻ. Trái lại với những trẻ này chúng ta phải giúp trẻ ăn uống điều độ hơn mà vẫn đảm bảo nhu cầu dinh dưỡng của trẻ, đảm bảo đủ năng lượng để trẻ có một cơ thể khỏe mạnh. Biện pháp phối hợp với các lớp cho trẻ ăn giảm năng lượng hợp lý. 3/8 - Nhà trường thực hiện việc tính định lượng khẩu phần ăn của trẻ trên phần mềm dinh dưỡng Gokids với yêu cầu chung cho tất cả học sinh toàn trường đó là Đảm bảo tỉ lệ calo và cân đối các chất theo chuẩn, cân đối tỉ lệ Can xi và B1 chứ không có chế độ riêng cho trẻ béo phì. Bởi vậy việc phối hợp với giáo viên các lớp cho trẻ ăn giảm năng lượng khẩu phần ăn hợp lý là hết sức quan trọng. + Giảm năng lượng khẩu phần ăn từng bước một cho trẻ béo phì, mỗi tuần giảm khoảng 300 calo so với khẩu phần ăn trước đó cho đến khi đạt được lượng tương ứng. - Đối với trẻ nhỏ năng lượng calo của trẻ được tương ứng gữa tỷ lệ của các chất như + Trẻ nhà trẻ có Kcal 600 – 650; PLG 13-20; 30-40; 47-50 + Trẻ mẫu giáo có Kcal615-726; PlG 13-20; 25-35; 52-60. Có nhiều hình thức cho trẻ giảm bớt năng lượng những vẫn đảm bảo được cho trẻ no, khỏe mạnh và tích cực tham gia các hoạt động trong ngày đó là việc kết hợp nhiều loại thức ăn trong ngày thay thế các thực phẩm chính. Ví dụ Đến giờ ăn bữa ăn chính là 10h30 tôi tư vấn để giảm lượng tinh bột ở bữa này cho trẻ thừa cân cơm thay vào đó là tăng cường cho trẻ ăn rau, củ, quả, chất đạm vẫn cần đảm bảo, tôi thấy lượng Gluxit giảm, calo của trẻ vẫn đảm bảo. Với hình thức này khi triển khai tôi thấy có một số khó khăn vì thực tế những trẻ đó rất thích ăn cơm, trẻ muốn ăn thêm nữa. Lúc này cô giáo giải thích nhẹ nhàng dần dần và khuyến khích trẻ ăn thêm rau củ quả, và cứ như vậy sau một thời gian trẻ thích nghi được với chế độ ăn hạn chế tinh bột đối với trẻ béo phì. 4/8 Giờ ăn của các lớp Biện pháp kết hợp với giáo viên tuyên truyền đến gia đình trẻ cho ăn ít chất bột đường, chất béo trong các bữa ăn của trẻ. Năng lượng calo đưa vào cơ thể qua thức ăn, thức uống được hấp thu để tạo thành năng lượng. Năng lượng ăn quá nhu cầu sẽ được dự trữ dưới dạng mỡ. Chế độ ăn giàu chất béo, nhiệt độ cao có liên quan chặt chẽ với gia tăng tỷ lệ béo phì. Các thức ăn giàu chất béo thường dễ ăn nên các cháu ăn dư thừa mà không biết. Vì vậy khẩu phần ăn dư lượng nhỏ chất béo cũng có thể gây thừa calo, ăn nhiều chất bột đường, đồ ngọt đều có thể gây béo phì. Qua khảo sát đã cho ta thấy, nếu trẻ thích ăn chất béo, chất bột sẽ tăng cân hơn những trẻ khác. Để biện pháp này có kết quả cao tôi đã có ý kiến với các cô ở lớp trong việc tuyên truyền với các mẹ, để cô giáo kết hợp với cha mẹ trẻ, hướng dẫn các mẹ cho con ăn điều độ, không cho trẻ uống nhiều nước ngọt mà nên cho trẻ ăn bữa sáng nhiều hơn là bữa tối, buổi tối cho các con ăn thức ăn dễ tiêu vì buổi tối các con ít vận động hơn. Tuyên truyền để cha mẹ trẻ phải để ý chế độ ăn uống của con em mình, cha mẹ hạn chế cho con ăn những chất dầu mỡ như các món chiên, xào, nướng, bánh kẹo, đồ ngọt… mà trái lại khuyến khích trẻ ăn rau quả tươi để bù năng lượng kiến trẻ không có cảm giác đói. Bên cạnh chế độ ăn của trẻ thì chế độ luyện tập vận động cũng vô cùng quan trọng. Tôi đã sưu tầm một số bài viết, đọc những thông tin về cách chăm sóc trẻ béo phì, sưa tầm tài liệu để cung cấp cho các lớp và để giáo viên tuyên truyền đến phụ huynh về cách chăm sóc trẻ béo phì với các hình thức Giáo viên trao đổi, phát tờ rơi, dán tại bảng tin của trường và của lớp, phát thanh trên loa đài vv. Một hình thức tuyên truyền hiệu quả nữa đó là Sau khi y tế của nhà trường đưa ra số liệu chính xác về số lượng trẻ béo phì và sau một quá trình thử nghiệm tôi đã tư vấn với nhà trường mời chuyên gia dinh dưỡng về trò chuyện gặp gỡ đại diện phụ huynh trong các buổi họp phụ huynh để cùng trao đổi với họ về việc phối kết hợp quan tâm đến vấn đề chăm sóc trẻ, trong buổi tọa đàm ngày hôm đó tôi mạnh dạn phát biểu ý kiến trên cơ sở nắm được thực trạng các cháu thừa cân béo phì của trường và nói lên được mong muốn của nhà trường với mục tiêu giảm tỉ lệ trẻ béo phì, tôi đã đưa ra một số minh chứng cụ thể về việc này để phụ huynh cảm nhận và kết hợp tốt hơn với nhà trường trong việc chăm sóc trẻ béo phì. 5/8 Biện pháp tăng cường cho trẻ ăn nhiều rau, củ, quả - Rau, củ, quả là một loại thức ăn vô cùng quan trọng nó góp phần tăng sức đề kháng cho cơ thể, nó cung cấp một số vitamin cần thiết, giúp cơ thể hấp thu được nhiều loại thức ăn khác nhau. Tuy nhiên để rau củ quả có tác dụng cho cơ thể ta cần phải chú ý đến cách chế biến và thời gian ăn các loại quả. - Ví dụ 1 Khi ta chế biến các loại rau củ cần phải đảm bảo còn đủ lượng vitamin cần thiết cho đến lúc trẻ ăn. - Ví dụ 2 Khi ăn hoa quả nên ăn trước bữa ăn thì hoa quả có tác dụng trực tiếp trong quá trình tiêu hóa thức ăn sau này của cơ thể. - Một yếu tố cũng rất quan trọng nữa đó là việc lựa chọn thực phẩm phải lưu ý chọn thực phẩm tươi ngon, không có chất kích thích, chất xúc tác, rau ngon đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm. Ở trường mầm non nơi tôi công tác chúng tôi đã làm rất tốt việc này. Bữa ăn có nhiều rau xanh Biện pháp tăng cường cho trẻ vận động. - Đối với trẻ thừa cân béo phì thì vấn đề về tổ chức cho trẻ có chế độ học tập vui chơi nghỉ nghơi phải hợp lý. Tôi đã đưa ra phương án, các cô giáo của mỗi lớp tự thiết kế cho trẻ béo phì thừa cân của lớp một chế độ riêng như học tập vui chơi, với những trẻ này cho trẻ vận động tích cực hơn những trẻ khác, đòi hỏi ở trẻ phải tham gia các hoạt động kích thích sự phát triển của tư duy, vận động để trẻ tiêu hao năng lượng, tránh tình trạng để trẻ phát triển tính ì lười vận động 6/8 Đối với gia đình, tôi đã nhờ giáo viên tư vấn cho họ mua đĩa hình hướng dẫn trẻ tập thể dục và động viên họ cho con kiên trì tập thể dục buổi sáng. Thực trạng trẻ rất ngại tập thể dục và còn hay nhũng nhẽo nên tôi đã tư vấn với giáo viên động viên trẻ bằng hình thức Động viên trẻ cứ sau một tuần trẻ tập thể dục sáng đều đặn thì đến trường sẽ được khen vv. Trẻ luyện tập tại góc thể chất 4. Hiệu quả sáng kiến Qua một thời gian dài kiên trì, tận tình với một số biên pháp trên mà tôi đã làm, một phần nào đó đã giảm được tỷ lệ trẻ thừa cân béo phì trong trường. Đầu năm trong trường tôi có 6/750 = 0,8% tháng 9 năm 2018. Đến cuối năm học tháng 3 năm 2019 giảm 05 cháu đạt tỉ lệ giảm là 0,7%; Việc chăm sóc trẻ thoát khỏi tình trạng béo phì thừa cân không đơn giản, tuy kết quả của chúng tôi chưa cao nhưng đây là một dấu hiệu đáng đã bước đầu thành công trong công tác chăm sóc trẻ thừa cân, béo phì để trẻ được phát triển toàn diện cả về thể lực và trí tuệ góp phần quan trọng trong việc hình thành nhân cách cho trẻ. III KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ Việc điều trị cho trẻ thừa cân, béo phì đòi hỏi phải kiên trì về thời gian, kết hợp sự diều chỉnh chế độ ăn của trẻ, chế độ sinh hoạt trong ngày. Với trẻ dưới 6 tuổi biện pháp chủ yếu là giảm tốc độ tăng cân không phải là làm cho trẻ giảm cân hoặc không tăng cân, bằng cách lựa chọn áp dụng những thực đơn đã được tính toán phù hợp với trẻ. Ngoài ra cần khuyến khích trẻ hoạt động như chạy, nhảy, hoạt động, đi bộ, hoặc thông qua các trò chơi hoạt động phù hợp hạn chế các trò chơi ít vận động như xem ti vi, ipast. 7/8 Đối với một số phụ huynh có con trong tình trạng trẻ thừa cân thì cần phải tư vấn để làm thay đổi quan niệm “Béo phì là khỏe, là phát tướng” Giúp họ hiểu được nguyên nhân, tác hại, cách phòng bệnh béo phì ở trẻ em. Hướng dẫn cho cha mẹ biết cách theo dõi sự tăng trưởng của con mình và cách cho con ăn uống, hoạt động hợp lý nhằm chống cả suy dinh dưỡng và béo phì của trẻ em. Phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong công tác chăm sóc trẻ từ chế độ ăn đến chế độ học tập và vui chơi của trẻ là vô cùng cần thiết. Với trách nhiệm và lòng yêu nghề, trong bất cứ một hoàn cảnh nào cũng phải đặt nhiệm vụ chăm sóc, nuôi dưỡng các cháu lên hàng đầu. Mục tiêu làm giảm trỉ lệ trẻ thừa cân béo phì trong trường mầm non là rất cần thiết, góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc nuôi dưỡng trong nhà trường, tạo được lòng tin đối với phụ huynh và khẳng định được chất lượng đội ngũ nhà trường đã rất tâm huyết với nghề. Với một vài kinh nghiệm nhỏ của tôi về một số biện pháp làm giảm tỉ lệ trẻ thừa cân, béo phì trong trường mầm non mà tôi đã thực hiện đã đóng góp một phần nhỏ trong việc xây dựng nhà trường phát triển. NGƯỜI VIẾT Đào Thị Thu Thủy 8/8
biện pháp chăm sóc trẻ béo phì